Sáng 13/1, Lễ vinh danh FChoice 2025 và Hội thảo “Động lực tăng trưởng kinh tế 2 chữ số và Cơ hội đầu tư năm 2026” đã chính thức diễn ra tại khách sạn Sheraton (Hà Nội).
Sự kiện tôn vinh những doanh nghiệp, doanh nhân và dấu ấn nổi bật của kinh tế Việt Nam năm 2025, đồng thời mở ra không gian đối thoại chuyên sâu về con đường hướng tới mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong giai đoạn 2026–2030.
Hội thảo phiên 1 với các diễn giả PGS.TS Trần Đình Thiên, ông Đặng Thành Tâm - Chủ tịch HĐQT Kinh Bắc (KBC), ông Phạm Hồng Hải - CEO Ngân hàng OCB, ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó TGĐ Khối đầu tư AgriS (SBT) đã cùng thảo luận về chủ đề "Động lực tăng trưởng kinh tế 2 chữ số".
Toàn cảnh Hội thảo phiên 1
Host: Thưa PGS. TS Trần Đình Thiên, Trong năm 2025, kinh tế Việt Nam đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về bộ máy, cơ chế, chính sách. Nhiều quyết sách được thực thi chỉ trong thời gian rất ngắn như sáp nhập, sắp xếp bộ máy, các dự án từng đình trệ nhiều năm cũng đã được giải phóng... Đó có thể nói là những thay đổi phi thường, nhưng đang dần trở thành những điều "bình thường mới". Theo ông, những yếu tố "bình thường mới" nào có thể tạo ra bước ngoặt cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026–2030 và bắt đầu với tăng trưởng 2 con số của năm 2026?
PGS.TS Trần Đình Thiên: "Đất nước chúng ta đã biến điều bình thường của thế giới thành điều phi thường. Đó chính là việc coi khu vực tư nhân là một động lực tăng trưởng mạnh nhất. Đến năm 2025, chúng ta đã đặt khu vực tư nhân vào đúng vai trò bình thường của nó, là nền tảng, cốt lõi và động lực.
Việc này đã tạo nên sự phi thường và quan trọng nhất, nó tạo ra niềm tin của mọi người về tương lai.
Điểm thứ hai là một sự khác biệt đáng kể. Từ trước đến nay, các nghị quyết của Đảng thường rất hay và đúng đắn về mặt nội dung, nhưng hiệu quả và hiệu lực trong thực thi lại chưa cao. Chúng ta đã có các nghị quyết về tư nhân, công nghệ, hội nhập, nhưng tác động chưa thực sự rõ rệt.
Lần này, sự khác biệt nằm ở cách tiếp cận. Thay vì từng nghị quyết riêng biệt, độc lập, đơn độc và không đồng bộ mục tiêu, chúng ta đang sử dụng một cách tiếp cận theo bộ, theo khối – như "bộ tứ," "bộ bát".
Đây là một cách tiếp cận tổng thể, hệ thống, không chỉ giải quyết từng điểm riêng lẻ mà thay đổi toàn bộ cục diện. Tôi tin rằng, tiền đề nhất quán này, bắt nguồn từ tư duy và cách tháo gỡ các nghị quyết, sẽ đảm bảo thành công và giúp các chính sách đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng.
PGS.TS Trần Đình Thiên
Điểm thứ ba là về mô hình tăng trưởng, đang bắt đầu có động lực mạnh mẽ dựa trên những thay đổi vừa qua. Nếu chúng ta thực thi tốt, điều này sẽ trở nên tuyệt vời cho Việt Nam.
Cụ thể, có ba yếu tố chính:
Thứ nhất, khu vực tư nhân lần đầu tiên được nhìn nhận một cách khác biệt, đúng với vai trò của nó.
Thứ hai, khoa học công nghệ thực sự trở thành mục tiêu và công cụ. Trước đây, công nghệ thường chỉ được tôn thờ hoặc coi trọng một cách chung chung. Nhưng lần này, cách tiếp cận trong các nghị quyết đã xác định công nghệ là lực lượng sản xuất nền tảng, và việc triển khai đang bắt đầu được đẩy mạnh, không chỉ là mục tiêu mà còn là công cụ để đạt được mục tiêu.
Thứ ba, là cách triển khai về hạ tầng nền tảng. Mặc dù chúng ta chưa thể hoàn toàn hài lòng với hạ tầng hiện tại, nhưng đã có một sự tiếp cận hệ thống trong phát triển hạ tầng, có sự ưu tiên và liên kết chặt chẽ. Đây là một yếu tố quan trọng trong mô hình tăng trưởng mới.
Tuy nhiên, vấn đề mà chúng ta vẫn còn lo ngại nhất là liệu chúng ta có đủ năng lực thực thi để chuyển hóa những ý tưởng này thành hiện thực hay không. Với tinh thần của các Nghị quyết đã được đưa ra, tôi tin rằng nếu thành công, điều này sẽ đảm bảo đất nước phát triển không chỉ về số lượng mà còn về hiệu quả, về cách sử dụng nguồn lực một cách tối ưu. Tôi rất mong và tin tưởng điều đó sẽ thành hiện thực".
PGS.TS Trần Đình Thiên chia sẻ quan điểm
Host: Ở trong lĩnh vực ngân hàng, ông Hải thấy những điều “bình thường mới” nào tương tự và điều đó có thể góp phần ra sao cho mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số?
Ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc Ngân hàng OCB: "Trong lĩnh vực ngân hàng, chúng ta cũng thấy rõ tư duy Quyết định nhanh – triển khai nhanh – chịu trách nhiệm rõ ràng. Đơn cử như trước đây, trong ngân hàng: Một sản phẩm mới có thể mất 12–18 tháng để phê duyệt và triển khai; Một thay đổi quy trình phải qua nhiều lớp.
Tuy nhiên, hiện nay, điều đang trở nên “bình thường” đó là: Phân quyền mạnh cho Ban điều hành và các hội đồng chuyên trách; Thí điểm nhanh (pilot), đo lường sớm, điều chỉnh linh hoạt. Phương pháp làm việc Agile và các Squad team ngày càng phổ biến trong tổ chức. Khi cả đội ngũ được phân quyền để thực thi triển khai nhanh “hướng về cùng một mục tiêu” và chấp nhận “thử và sai” để tạo ra kết quả nhanh với tính linh hoạt.
Điều thứ hai là cho vay dựa trên dòng tiền. Trước đây, điều đầu tiên các ngân hàng Việt Nam hỏi doanh nghiệp là tài sản đảm bảo ở đâu? Giờ đây, với hình thức cho vay dựa trên dòng tiền, chúng tôi đã giúp hàng loạt start up Việt Nam tiếp cận nguồn vốn.
Cuối cùng là tín dụng xanh. Chúng tôi cho rằng, đây không chỉ là trách nhiệm xã hội, mà còn là cơ hội kinh doanh cho ngành ngân hàng. Thực tế, tín dụng xanh đã tạo cơ hội rất lớn cho ngân hàng, giúp ngân hàng tăng trưởng ổn định, an toàn và ít biến động hơn. Tôi cho rằng đây là điều bình thường mới trong hệ thống ngân hàng".
Ông Phạm Hồng Hải - Tổng giám đốc Ngân hàng OCB
Host: Thưa ông Đặng Thành Tâm, khi môi trường đầu tư toàn cầu ngày càng có nhiều yếu tố bất thường, theo ông, những thay đổi gì về vĩ mô đang và sẽ giúp Việt Nam duy trì sức hút với dòng vốn đầu tư FDI trong giai đoạn tới?
Tôi nhận thấy một sự đồng điệu sâu sắc với các diễn giả: khoảng cách giữa lời nói và việc làm đang gần nhau hơn bao giờ hết. Chính sự nhất quán này đã tạo nên khí thế và sức mạnh lan tỏa tới tất cả chúng ta trong hội trường ngày hôm nay.
Làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư nước ngoài, tôi nhận thấy sự chuyển biến rõ nét trong quá trình tái cấu trúc bộ máy kinh tế. Chưa bao giờ các quyết định đầu tư tại các bộ, ngành và tỉnh thành lại được thực hiện nhanh chóng đến thế. Việc đẩy nhanh tiến độ chính là cách giảm thiểu lãng phí hiệu quả nhất. Bởi nếu đầu tư dàn trải và lãng phí, hệ lụy sẽ là lạm phát; nhưng nếu đầu tư tập trung, nhanh chóng và hiệu quả, chúng ta sẽ vừa kiểm soát được lạm phát, vừa thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vững.
Chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc nội địa hóa và gia tăng giá trị thặng dư trong nước. Khi năng lực cạnh tranh được nâng cao, chúng ta sẽ nhận về giá trị vật chất thực chất hơn, tạo tiền đề cho mục tiêu tăng trưởng hai con số trong tương lai.
Một khía cạnh then chốt khác chính là thành tựu ngoại giao xuất sắc của Nhà nước và Chính phủ, cùng sự đóng góp của ngoại giao nhân dân. Việt Nam đã tạo ra một sự khác biệt hoàn toàn so với phần còn lại của thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu đầy bất ổn, chúng ta vẫn duy trì được sự ổn định đáng kinh ngạc.
Việc thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với hầu hết các cường quốc như Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ đã khẳng định chính sách "kết bạn bốn phương" đúng đắn. Chúng ta không là kẻ thù của bất kỳ ai; ngược lại, Việt Nam là người bạn tin cậy, cung cấp hàng hóa và mang lại lợi ích hài hòa cho các đối tác. Chính sự gắn kết dựa trên lợi ích chung này đã bảo đảm sự ổn định cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào những điểm nghẽn. Hiện nay, Việt Nam đang lệ thuộc khá lớn vào xuất khẩu sang Hoa Kỳ (năm 2024 đạt khoảng 140 tỷ USD và vẫn tiếp tục tăng mạnh). Để phát triển bền vững, Chính phủ đã chủ động ký kết nhiều hiệp định thương mại (FTA) để mở đường sang các thị trường mới như EU hay khu vực Nam Phi.
Tôi quan sát thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang vào Việt Nam với khí thế rất lớn. Họ không chỉ nhắm đến thị trường Mỹ mà còn bắt đầu chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu sang châu Âu ngay tại Việt Nam để tạo sự cân bằng và bền vững cho chuỗi cung ứng.
Việt Nam cũng đang ở thời kỳ "dân số vàng" với lực lượng lao động cần cù. Một con số đáng suy ngẫm là lượng kiều hối gửi về đạt khoảng 20 tỷ USD/năm, trong khi tiết kiệm thuần trong nước còn khiêm tốn. Hiện nay, nhiều quốc gia có dân số già như khối Schengen đang rất "khát" lao động và sẵn sàng tiếp nhận khoảng 500.000 lao động Việt Nam với mức lương cao. Đây là cơ hội lớn; bởi sau 3 năm làm việc, khi trở về, họ sẽ là nguồn nhân lực chất lượng cao, mang theo kỹ năng và tư duy quốc tế để xây dựng quê hương.
Điều quan trọng nhất lúc này chính là khí thế của năm 2026. Với tuyên bố của Tổng Bí thư, chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Tôi tin rằng trong vòng 10 năm tới, GDP của Việt Nam sẽ có khả năng lọt vào top 10 quốc gia hàng đầu thế giới.
Trong khi những quốc gia như Nhật Bản hay Hàn Quốc đang gặp nhiều khó khăn về động lực tăng trưởng, thì khí thế tại Việt Nam lại đang lên rất cao. Vấn đề còn lại là cách chúng ta hấp thụ vốn, thực thi chính sách và triển khai các dự án thông qua một quy hoạch tổng thể thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Tất cả chúng ta cần cùng nhau xây dựng và thực hiện kế hoạch này bằng tình yêu đất nước và nghị lực phi thường để vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.
Host: Với doanh nghiệp nội địa, lại tham gia vào thị trường toàn cầu như AgriS, ông nhìn nhận những yếu tố nào đang tác động lớn nhất đến hoạt động và khả năng cạnh tranh?
Ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó Tổng giám đốc, Khối Đầu tư AgriS: Thay đổi lớn nhất từ thị trường quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến hàng hóa Việt Nam chính là các tiêu chuẩn xanh (ESG) và yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Đây được coi là hai yếu tố then chốt, không chỉ riêng với ngành nông nghiệp mà cho tất cả các ngành nghề muốn duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh trên quy mô toàn cầu.
Dù xu hướng ESG tại một số thị trường, đặc biệt là Mỹ, có dấu hiệu chững lại do thay đổi chính sách, song trên bình diện toàn cầu, nhất là tại châu Âu và nhiều khu vực khác, các quốc gia vẫn cam kết rất mạnh mẽ với bộ tiêu chuẩn ESG. Đây là xu hướng dài hạn, không thể đảo chiều trong ngắn hạn.
Để đáp ứng ESG, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều yêu cầu khắt khe và một lộ trình chuyển đổi dài hơi. Trước hết là nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn, không chỉ cho công nghệ, hệ thống mà còn cho tư vấn, đào tạo, cùng với cam kết mạnh mẽ từ ban lãnh đạo lan tỏa xuống toàn bộ đội ngũ nhân sự.
Trên thực tế, cần ít nhất 3–5 năm để doanh nghiệp có thể tiệm cận và đáp ứng các tiêu chuẩn ở mức cơ bản, bởi không thể chuyển đổi toàn bộ quy trình sản xuất ngay lập tức.
Ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Phó Tổng giám đốc, Khối Đầu tư AgriS
Một yêu cầu bắt buộc khác là ứng dụng sâu công nghệ số vào toàn bộ chuỗi sản xuất. Các nhà nhập khẩu, đặc biệt tại châu Âu, có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ gốc của sản phẩm trong thời gian rất ngắn, thậm chí chỉ trong vòng 4 tiếng.
Nếu không thể cung cấp dữ liệu ngay lập tức, điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp chưa vận hành hiệu quả hoặc chưa sẵn sàng về hệ thống. Do vậy, không còn lựa chọn nào khác ngoài việc số hóa toàn diện, chi tiết hóa và tập trung hóa dữ liệu sản xuất.
Quá trình số hóa này đòi hỏi doanh nghiệp phải đưa ra những quyết định mang tính chiến lược, chẳng hạn lựa chọn nền tảng phần mềm quản trị phù hợp. Nhiều doanh nghiệp đã phải đưa ra quyết định khó khăn khi chuyển đổi từ các phần mềm cũ sang các hệ thống hiện đại hơn như SAP để đạt hiệu quả cao hơn.
Song song với ESG, truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc, nhất là trong bối cảnh Việt Nam liên tục đối mặt với các vấn đề liên quan đến an toàn thực phẩm, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Đối với các thị trường khó tính, truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở an toàn thực phẩm mà còn mở rộng sang các tiêu chí xã hội và môi trường như: có sử dụng đất phá rừng hay không, có sử dụng lao động địa phương và đảm bảo quyền lợi cho họ hay không.
Bản thân việc truy xuất nguồn gốc cũng gắn liền với năng lực cung cấp dữ liệu nhanh chóng. Hiện nay là yêu cầu trong vòng 4 tiếng, nhưng trong tương lai, mức độ cạnh tranh có thể đẩy thời gian này xuống còn 1 tiếng, hoặc thậm chí doanh nghiệp phải cung cấp trực tiếp cho khách hàng một nền tảng dữ liệu để họ tự truy cập, khai thác thông tin mà không cần thông qua trung gian.
Ở góc độ cạnh tranh, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh lẫn nhau trong nước mà còn phải đối đầu trực tiếp với các đối thủ lớn trên toàn cầu, đặc biệt từ Thái Lan, Brazil hay các quốc gia có chuỗi cung ứng phát triển.
Trong cuộc cạnh tranh đó, ESG và truy xuất nguồn gốc chính là những yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho hàng hóa Việt Nam, bên cạnh các bài toán truyền thống vẫn luôn hiện hữu là chất lượng và giá cả.
Host: Quay lại với chiến lược ngân hàng, thưa ông Phạm Hồng Hải, một trong những động lực cho tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai là tăng trưởng xanh và OCB cũng là một trong những ngân hàng lựa chọn chiến lược tăng trưởng xanh. Theo ông, chiến lược tăng tưởng xanh có mâu thuẫn với mục tiêu tăng trưởng nhanh mà ngân hàng đặt ra hay không? Làm cách nào để vừa tăng trưởng nhanh mà vẫn xanh?
Ông Phạm Hồng Hải: Chúng tôi định vị là một trong những ngân hàng xanh hàng đầu của Việt Nam. Trên thực tế, đây là chiến lược không dễ thực hiện, mà tôi quan điểm cái gì dễ thì không tốt về dài hạn. Hầu hết mọi người lo về cơm áo gạo tiền, trước khi nghĩ đến “xanh”. Tuy nhiên, “xanh” lại là yếu tố mang đến cơ hội cho doanh nghiệp, ngân hàng và cả nền kinh tế.
Khi chúng tôi áp dụng tín dụng xanh, chúng tôi đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn, có những cơ hội chấp nhận bỏ lỡ bởi nó không đáp ứng những tiêu chuẩn của ngân hàng. Tuy nhiên, nhìn về dài hạn, tôi cho rằng tín dụng xanh tạo ra rất nhiều cơ hội, góp phần vào tốc độ phát triển của ngân hàng.
Theo một số dự báo, từ giờ cho đến năm 2030, trung bình Việt Nam cần khoảng 150.000 USD để đầu tư cho năng lượng tái tạo, bao gồm năng lượng mặt trời và các năng lượng tái tạo khác. Bên cạnh đó là xu hướng chuyển dịch hoạt động xanh, nhiều doanh nghiệp dù chưa đáp ứng tiêu chuẩn xanh nhưng có nhu cầu chuyển dịch xanh, thì họ cũng cần đầu tư vào khoản này.
Ở góc độ ngân hàng, khi chúng tôi cho các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xanh vay, điều dễ nhận thấy là tỷ lệ nợ xấu rất thấp, cho thấy hiệu quả rất lớn khi ngân hàng áp dụng chiến lược xanh. Bên cạnh đó, chi phí vận hành của chúng tôi cũng giảm đáng kể. Bởi lẽ, để làm giảm tác động tới môi trường, thì ta cần số hoá quy trình.
Tôi cho rằng, chiến lược xanh không chỉ là trách nhiệm xã hội của bản thân ngân hàng, mà nó còn tạo ra rất nhiều cơ hội kinh doanh cho hệ thống ngân hàng, một động lực tăng trưởng mới.
Ở những năm 2000, chúng ta nói rất nhiều về mobile, về điện thoại di động, thì giờ đây, xu hướng mới là ESG, là AI. Đây chính là xu hướng mà doanh nghiệp nào tận dụng được thì có thể tạo nên sự phi thường.
Host: Thưa ông Tâm, KBC đã có hàng chục năm biến những vùng đất hoang sơ thành khu công nghiệp hiện đại đồng thời thu hút nhiều nhà đầu tư FDI danh tiếng. Trong giai đoạn đất nước vươn mình rất mạnh mẽ, KBC sẽ có thay đổi gì trong việc tiếp tục hút nguồn vốn FDI mới có chất lượng cao vào Việt Nam, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số và cần có điều kiện gì để thực hiện điều đó?
Thực ra mà nói, tại sao các nhà đầu tư chọn Việt Nam? Bởi Việt Nam có những chính sách và điểm đến hấp dẫn.
Tại sao vào Việt Nam người ta đến với chúng tôi? Thì bản thân chúng tôi cũng phải chuẩn bị để hài hòa nhất, chúng tôi luôn luôn xây dựng khá bài bản. Như các bạn vừa nói về tăng trưởng xanh, chúng tôi cũng là một trong những đơn vị đầu tiên đi đầu về tăng trưởng xanh.
Ngay hiện nay, lãnh đạo Samsung đến gặp Thủ tướng đề nghị rằng phải cung cấp năng lượng sạch cho họ thì họ mới tiếp tục mở rộng ở Việt Nam được. Mặc dù đây không phải là bắt buộc để xuất sang Hoa Kỳ hay châu Âu, nhưng đây là cam kết của doanh nghiệp.
Bản thân tôi là thành viên của Hội đồng Tư vấn Kinh doanh APEC (ABAC), tôi cũng phải cam kết mỗi một năm sẽ phải tăng tỷ lệ năng lượng xanh ở trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chúng tôi biết rằng đầu tư vào năng lượng tốn tiền và rất tốn nhưng bắt buộc phải bỏ vào đó để đóng góp chung cho cả nền kinh tế. Chính phủ Việt Nam đã ký COP26, COP27 đến COP28 để hướng tới năm 2050 là Net Zero. Với quyết tâm của Đảng và Nhà nước, chắc chắn chúng ta sẽ về đích sớm hơn.
Muốn về đích sớm hơn thì từng doanh nghiệp phải chủ động vì cho đến nay ở Việt Nam chưa có các tiêu chuẩn cụ thể về việc tính toán tín chỉ carbon. Chúng tôi đã mời công ty Verra, một trong bốn công ty lớn nhất thế giới cung cấp tín chỉ CO2, để thành lập các lớp học cho chính quyền địa phương và các xí nghiệp.
Việc này nghe thì rất hay nhưng để cụ thể hóa thì không đơn giản. Ví dụ như chúng tôi tài trợ cho họ về giúp Đồng Nai, họ làm việc với vệ tinh và phần mềm AI để quay phim, đánh số và theo dõi di chuyển. Chỉ sau ba tuần, họ đưa ra đề án phân luồng lại xe giúp giảm 15 phút kẹt xe, từ đó giảm lượng khí thải. Chúng tôi trả tiền cho họ và họ cũng xin thêm nguồn từ Ngân hàng Thế giới để tư vấn cho các doanh nghiệp.
Sản xuất xanh hơn, sạch hơn, tuần hoàn nói thì dễ nhưng để hiểu cụ thể tại xí nghiệp mình phải làm gì là vấn đề lớn. Khi chuyển đổi sang sản xuất sạch để nâng cao giá trị gia tăng thì chắc chắn cần những sự tư vấn chuyên gia. Chúng tôi đã đi trước mở những khóa học như thế tại Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Ninh để các lãnh đạo địa phương học tập và gắn nội dung này vào chương trình phát triển kinh tế xã hội.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng là đơn vị mạnh về xây dựng nhà ở xã hội phục vụ cho các nhà máy xí nghiệp. Ngày xưa công nhân chủ yếu sống quanh các khu công nghiệp với điều kiện sống kém và mất an toàn phòng cháy chữa cháy. Trong quá trình phát triển, chúng tôi tham gia chặt chẽ vào chương trình nhà ở xã hội dù lợi nhuận rất ít nhưng giúp công nhân ổn định cuộc sống và gắn bó lâu dài với nhà máy. Sau những tranh cãi về chính sách, hiện nay đã cho phép công nhân và cả các nhà máy trong khu công nghiệp được mua nhà cho công nhân ở miễn phí, giúp hoạt động sản xuất không bị biến động.
Hiện tại chúng tôi vẫn thu hút tốt nhưng luôn phải chủ động. Ví dụ khi Hoa Kỳ có những công bố chính sách mới khiến dòng vốn bỗng dưng chững lại, chúng tôi đã chủ động sang châu Âu để tìm kiếm, kêu gọi các doanh nghiệp chuyển đổi hướng về Việt Nam. Nếu xuất khẩu vào Hoa Kỳ khó khăn mà chúng ta kéo được doanh nghiệp xuất sang châu Âu thì vẫn duy trì được tăng trưởng.
Bản thân chúng tôi luôn phải học tập để nhạy bén hơn vì cạnh tranh hiện nay rất cao. Bây giờ nếu có vấn đề gì bạn có thể hỏi ChatGPT, nó sẽ trả lời chính xác và đôi khi rất bất ngờ, quan trọng là mình hỏi sâu sắc đến đâu.
Chúng tôi đang nhắm vào công nghệ cao, tỷ trọng đầu tư công nghệ cao tại các khu của chúng tôi có thể nói là cao nhất Việt Nam, hơn cả Khu Công nghệ cao Hòa Lạc hay Thành phố Hồ Chí Minh. Trong trào lưu hiện nay, AI Data Center là một cơ sở hạ tầng thông minh hết sức quan trọng. Các hệ data cũ ở nước ngoài bắt buộc phải đổi mới vì năng lượng đắt, trong khi Việt Nam đang có chính sách mới về điện mặt trời, điện gió và năng lượng sạch.
Chúng tôi đang chủ động quy hoạch, xin các điều kiện điện nước chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận các AI Data Center. Hiện chúng tôi đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất cho Apple, LG, Samsung. Khi thu hút được các đơn vị như NVIDIA, Amazon hay Apple, tất cả các hoạt động sẽ nằm trên AI Data Center và thiết bị cá nhân chỉ là công cụ chuyển tin. Về sau máy móc sẽ rẻ hơn vì tất cả mọi sự tính toán đều nằm ở trên mạng. Chúng tôi mạnh dạn nhưng chỉ giới hạn công việc của mình ở vấn đề chuẩn bị cơ sở hạ tầng sẵn sàng cho nhà đầu tư.
Để dễ hình dung về sự chuyển đổi này, có thể ví Kinh Bắc City như một đơn vị đang xây dựng những "bến cảng thông minh" với đầy đủ điện sạch và công nghệ số để sẵn sàng đón những "con tàu lớn" từ khắp thế giới cập bến an toàn và bền vững.
Host: Thưa ông Hải, khi quyết tâm rất cao thực hiện những điều “bình thường mới” như vậy để đưa Việt Nam vươn mình và tăng trưởng 2 con số, theo ông, những điều “bình thường” nào nên tránh?
Chúng ta đã nói về phi thường của Việt Nam, đâu đó cũng có những điều “bất thường” đang diễn ra mà tôi cho rằng nên xoá bỏ đi.
Về chế độ hai sổ sách, ở góc độ ngân hàng, chúng tôi khuyên khách hàng nên thống nhất lại, chỉ sử dụng một sổ duy nhất. Khi minh bạch về sổ sách, ngân hàng sẽ tin tưởng khách hàng hơn, doanh nghiệp cũng dễ dàng hoàn thành các nghĩa vụ về thuế.
Về thông lệ về “bôi trơn”, tất nhiên không thể xóa bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, tối thiểu trong doanh nghiệp, chúng ta nên vận hành dựa trên hiệu quả và kết quả công việc thay vì quan hệ.
Từng bước như vậy, tôi tin rằng sẽ biến những điều bình thường thành phi thường.




