Doanh nghiệp Nhà nước trước cuộc đại tái cơ cấu - bài 1: Vì sao cổ phần hóa ì ạch?

13/07/2026 08:24

TP - Từ hàng chục nghìn doanh nghiệp nhà nước (DNNN), Việt Nam hiện chỉ còn vài trăm DNNN nhưng vẫn nắm giữ khối tài sản, nguồn lực khổng lồ của nền kinh tế. Nghị quyết 79 đặt kỳ vọng DNNN phải giữ vai trò dẫn dắt, mở đường ở những lĩnh vực then chốt, đặt ra yêu cầu về một cuộc đại tái cơ cấu nhằm giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc, tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Cổ phần hóa từng được xem là chìa khóa để đổi mới DNNN, nhưng sau nhiều năm triển khai, tiến độ vẫn ì ạch. Đằng sau những kế hoạch liên tục lỡ hẹn là hàng loạt nút thắt về cơ chế, định giá tài sản, xử lý đất đai và cả tâm lý sợ trách nhiệm đang níu chân quá trình tái cơ cấu khu vực DNNN.

Khó thoái vốn, loạt DNNN nguy cơ rớt chuẩn đại chúng

Theo kế hoạch sắp xếp lại DNNN, doanh nghiệp có vốn Nhà nước giai đoạn 2022-2025, cả nước có 19 doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa và 141 doanh nghiệp phải thoái vốn. Tuy nhiên, thực tế triển khai đến hết năm 2025 và những tháng đầu năm 2026 cho thấy, tiến độ vẫn rất chậm.

Thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, trong số 30 doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa giai đoạn 2021-2025, mới chỉ có 5 doanh nghiệp thành lập ban chỉ đạo cổ phần hóa và tổ giúp việc. Có tới 13 doanh nghiệp vẫn đang ở giai đoạn chuẩn bị, chủ yếu tập trung vào việc xác định giá trị doanh nghiệp và xử lý các vấn đề tài chính liên quan.

Doanh nghiệp Nhà nước trước cuộc đại tái cơ cấu - bài 1: Vì sao cổ phần hóa ì ạch?- Ảnh 1.

Tình hình đất đai, tài chính phức tạp của các doanh nghiệp gây khó cho cổ phần hóa. Trong ảnh: dự án Trung tâm điều hành và giao dịch Vicem tại Hà Nội.

Một trong những nguyên nhân chính là hệ thống quy định liên quan đến cổ phần hóa, thoái vốn và quản lý vốn nhà nước còn một số bất cập. Việc xác định giá trị doanh nghiệp, xử lý đất đai, tài sản trước cổ phần hóa phức tạp và mất nhiều thời gian. Không ít doanh nghiệp có quy mô lớn, cơ cấu tài chính phức tạp, khiến quá trình xử lý trước cổ phần hóa càng khó khăn.

Cùng với đó là tâm lý e ngại trách nhiệm. Cổ phần hóa liên quan trực tiếp đến tài sản nhà nước nên nhiều cán bộ quản lý lo ngại rủi ro pháp lý trong quá trình triển khai.

Thực tế thoái vốn rất chậm và khó dù đã có khởi sắc. Theo Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, giai đoạn 2021-2024, đã thoái vốn với giá trị 2.800 tỷ đồng, thu về 9.261 tỷ đồng; trong đó, thoái vốn nhà nước tại 15 doanh nghiệp với giá trị 405 tỷ đồng, thu về 656 tỷ đồng. Các tập đoàn, tổng công ty thoái vốn theo đề án cơ cấu lại với tổng giá trị 2.394 tỷ đồng, thu về 8.604 tỷ đồng...

Sau cổ phần hóa, nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước đã niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán. Đến cuối năm 2025, thị trường có hơn 1.600 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch, trong đó có nhiều tên tuổi lớn sau cổ phần hóa như Vinamilk, Sabeco, PV GAS, ACV, Vietnam Airlines...

Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp dù đã lên sàn nhưng cơ cấu cổ đông vẫn cô đặc, tỷ lệ sở hữu nhà nước ở mức rất cao. Bài toán tăng khả năng huy động vốn vì thế còn bỏ ngỏ. Cũng vì cơ cấu quá cô đặc, không ít doanh nghiệp chưa đáp ứng tiêu chí công ty đại chúng theo quy định.

Theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, qua rà soát 789 doanh nghiệp cổ phần hóa, có 67 đơn vị chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông (trong đó có nhiều gương mặt nổi tiếng như PVGAS, Lọc hoá dầu Bình Sơn, Petrolimex, Becamex IDC…); 53 doanh nghiệp chưa đáp ứng điều kiện về vốn chủ sở hữu và 41 đơn vị chưa thực hiện đăng ký cổ phiếu, đăng ký giao dịch.

Trường hợp Tổng Công ty Tư vấn và phát triển Công nghiệp (Becamex IDC) là ví dụ điển hình. Doanh nghiệp đã đề xuất giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước từ 95,4% xuống 65% thông qua phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng nhằm tăng nguồn lực đầu tư và cải thiện tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Tuy nhiên, kế hoạch chào bán 150 triệu cổ phiếu tại HoSE sau Đại hội đồng cổ đông năm 2025 đã không được thông qua khi chỉ có 2,8% tổng số phiếu biểu quyết tán thành, còn khoảng 95% không có ý kiến - tỷ lệ gần tương ứng với phần vốn do Nhà nước nắm giữ.

Doanh nghiệp Nhà nước trước cuộc đại tái cơ cấu - bài 1: Vì sao cổ phần hóa ì ạch?- Ảnh 2.

Năm 2025, Becamex IDC từng hoãn thương vụ đấu giá lịch sử. Ảnh: Becamex.

Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Ngân hàng đầu tư kiêm Phó Giám đốc Khối Kinh doanh Chứng khoán An Bình (ABS) - cho biết, giai đoạn 2016-2019, quá trình cổ phần hóa và đưa DNNN lên sàn diễn ra khá mạnh, góp phần nâng cao tính minh bạch. Tuy nhiên, mục tiêu giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước vẫn chưa đạt như kỳ vọng.

Theo ông Minh, nút thắt lớn nhất nằm ở cơ chế định giá vốn nhà nước khi thoái vốn. Sau hàng loạt vụ việc liên quan đến thất thoát tài sản công, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp trở nên thận trọng do lo ngại trách nhiệm pháp lý nếu xác định giá không phù hợp.

Ông Minh cho rằng, có ba cách chính để giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước gồm: Thoái vốn trực tiếp, tăng vốn nhưng Nhà nước không góp thêm và tìm nhà đầu tư chiến lược. Tuy nhiên, để đẩy nhanh tiến độ, điều quan trọng nhất vẫn là hoàn thiện cơ chế xác định giá và thẩm quyền quyết định thoái vốn, đặc biệt với các doanh nghiệp đã niêm yết và có thanh khoản tốt.

Sợ trách nhiệm, e ngại minh bạch

Bên cạnh cổ phần hóa và thoái vốn, nhiều kế hoạch tái cơ cấu DNNN còn chậm do vướng xử lý nợ và tài sản tồn đọng. Trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, ông Nguyễn Danh Dũng - Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC), - cho rằng, thực tiễn xử lý nợ cho thấy, tiến trình tái cơ cấu đang đối mặt ba rào cản lớn.

Thứ nhất là hành lang pháp lý còn thiếu đồng bộ, hoạt động xử lý nợ chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản khác nhau. Điều này có thể dẫn tới vướng mắc trong xử lý tài sản bảo đảm và áp dụng các biện pháp thu hồi nợ. Việc chưa có một bộ luật thống nhất điều chỉnh các cơ chế xử lý nợ đặc thù theo nguyên tắc thị trường (như xóa nợ, khoanh nợ, giảm nợ, chuyển nợ thành vốn góp) đối với các khoản nợ có gốc ngân sách hoặc nợ của DNNN đã làm hạn chế rất lớn tính linh hoạt trong xử lý nợ.

Doanh nghiệp Nhà nước trước cuộc đại tái cơ cấu - bài 1: Vì sao cổ phần hóa ì ạch?- Ảnh 3.

Câu chuyện thâu tóm “đất vàng” không ít lần gây nhức nhối, như lùm xùm cổ phần hoá Hãng Phim truyện Việt Nam (VFS). Trong ảnh: “Đất vàng” VFS xuống cấp.

Rào cản thứ hai là tâm lý e ngại, né tránh trách nhiệm. Phần lớn các khoản nợ xấu tồn đọng phát sinh từ giai đoạn trước. Theo ông Dũng, đa số các khoản nợ xấu hiện nay phát sinh từ giai đoạn trước, điều này tạo ra tâm lý phổ biến là “không làm thì không sai”. Lãnh đạo doanh nghiệp có xu hướng trì hoãn, bởi lo ngại bị quy kết trách nhiệm cá nhân nếu phát sinh thiệt hại hoặc bị soi xét lại sau này.

Mặt khác, chủ động rà soát và xử lý nợ đồng nghĩa với việc phải nhìn thẳng vào thực trạng tài chính tại doanh nghiệp. Nợ xấu được công khai có thể ảnh hưởng đến đánh giá hiệu quả hoạt động, xếp loại doanh nghiệp và uy tín của tập thể lãnh đạo.

Doanh nghiệp Nhà nước trước cuộc đại tái cơ cấu - bài 1: Vì sao cổ phần hóa ì ạch?- Ảnh 4.

Nhiều DNNN sau cổ phần hóa vẫn chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ cấu cổ đông đại chúng theo quy định của thị trường chứng khoán

Theo đại diện DATC, sự cộng hưởng giữa tâm lý sợ trách nhiệm và e ngại minh bạch hóa nợ xấu khiến nhiều kế hoạch tái cơ cấu kéo dài. Khoản nợ vốn đã khó xử lý, ngày càng trở nên phức tạp và tốn kém hơn.

Năm 2025, số thu từ cổ phần hóa và thoái vốn đạt 1.411 tỷ đồng, cải thiện đáng kể so với tổng số 654,8 tỷ đồng của giai đoạn 2021-2024. Tuy nhiên, Bộ Tài chính nhìn nhận cổ phần hóa vẫn chậm, thoái vốn đầu tư ngoài ngành còn khó khăn, trong khi hiệu quả sản xuất, kinh doanh của một số tập đoàn, tổng công ty còn hạn chế.

Bạn đang đọc bài viết "Doanh nghiệp Nhà nước trước cuộc đại tái cơ cấu - bài 1: Vì sao cổ phần hóa ì ạch?" tại chuyên mục Doanh nghiệp - Doanh nhân. Mọi chi tiết xin liên hệ số hotline 0903 78 12 09 hoặc gửi email về địa chỉ: phutrachnoidung@gmail.com