Theo khảo sát, từ các món ăn sáng, ly cà phê đến cước vận chuyển hay nhiều dịch vụ thiết yếu khác, giá bán vẫn “cố thủ” ở mức cao sau khi tăng theo giá nhiên liệu.
Hàng quán chỉ tăng chứ không giảm
Nhiều ngày nay, chị Nguyễn Thị Hạnh (ngụ phường Bình Trưng, TP.HCM) thường xuyên ghé các quán đồ ăn quen gần nhà và nhận thấy giá bán vẫn như mọi ngày: Mỗi tô phở, bún vẫn có giá 45.000 - 60.000 đồng, đĩa xôi giá 20.000 - 25.000 đồng, bánh mỳ 15.000 - 30.000 đồng/ổ tùy loại, 1 suất cơm bụi ngon cũng phải 60.000 - 70.000 đồng, nếu đặt ship thì còn cao hơn…
Chị Hạnh khẳng định, mức giá này đã được nâng lên từ khoảng 3 tháng trước, thời điểm giá xăng dầu bắt đầu tăng cao do chiến sự ở Trung Đông. Chị Hạnh vẫn nhớ rõ lúc đó, nhiều quán ăn lập tức dán thông báo tăng giá bán với lý do chi phí nhiên liệu tăng. Nhưng đến nay khi giá nhiên liệu liên tục giảm mạnh thì chị Hạnh chưa thấy quán nào thông báo giảm giá trở lại.
“Khi tăng giá thì quán nào cũng đưa ra đủ lý do giải thích với khách. Nhưng hiện giờ khi tôi hỏi tại sao vẫn chưa chịu giảm giá bán thì ai cũng chỉ nói chung chung là chi phí vẫn cao nên chưa hạ được. Cứ mong mãi giá xăng dầu giảm để hàng hóa trở về mức cũ nhưng đến giờ thì vỡ mộng rồi. Tôi e là giá xăng dầu có giảm nữa vẫn thế”, chị Hạnh bức xúc nói.
Mỗi bát bún, phở vẫn giữ nguyên giá bán sau khi xăng giảm, đẩy thiệt thòi về phía khách hàng.
Không riêng đồ ăn, theo chị Hạnh, giá các mặt hàng từ rau xanh, thực phẩm đến thức uống hay nhiều dịch vụ khác đều giữ nguyên mặt bằng giá mới được thiết lập sau khi giá xăng dầu lên cao.
Tương tự, anh Lê Minh Hùng (ngụ phường Tuy Hoà, tỉnh Đắk Lắk), cho biết giá hàng hóa ở địa phương mình cũng gần như không thay đổi.
“Một tô bún bình thường trước đây 30.000 đồng, sau khi giá xăng tăng đã điều chỉnh lên 35.000 đồng và nay vẫn giữ nguyên. Hủ tiếu mực từ 40.000 đồng lên 45.000 đồng và cũng vẫn bán giá đó. Xăng xuống giá rồi mà chẳng thấy mặt hàng nào giảm giá theo”, anh Hùng nói.
Rất nhiều người tiêu dùng đang đặt câu hỏi: Vì sao giá xăng liên tục giảm nhưng giá cả ngoài thị trường vẫn không giảm theo, khiến khách hàng chịu thiệt? “Thời điểm giá xăng dầu tăng lên hơn 30.000 đồng/lít thì hàng quán đều tăng giá bán. Nhưng hiện đã qua nhiều đợt điều chỉnh và các mặt hàng nhiên liệu chỉ còn hơn 20.000 đồng/lít. Vậy mà giá hàng hóa không trở về mức cũ là điều khó chấp nhận”, anh Duy Nam (phường Vĩnh Hưng, Hà Nội) nói.
Trên thực tế, từ cuối tháng 3 đến nay, giá nhiên liệu đã nhiều lần điều chỉnh và hiện giảm khá sâu so với mức đỉnh.
Ngày 24/3/2026, giá xăng E5 RON92 ở mức 30.110 đồng/lít, xăng E10 RON95-III là 31.420 đồng/lít. Đến ngày 1/7, giá E5 RON92 còn 20.785 đồng/lít, giảm 9.325 đồng, tương đương gần 31%; xăng E10 RON95-III còn 21.203 đồng/lít, giảm hơn 32%. Đáng chú ý, dầu diesel - loại nhiên liệu được sử dụng phổ biến trong vận tải hàng hóa - giảm từ 39.660 đồng xuống còn 21.866 đồng/lít, tương đương gần 45%.
Giá bán lẻ xăng dầu giảm mạnh sau hơn 3 tháng. (Biểu đồ so sánh giá bán lẻ ngày 24/3/2026 và 1/7/2026)
4 kỳ điều chỉnh liên tiếp trong tháng 6 cũng đã đưa giá xăng dầu về vùng thấp nhất trong nhiều tháng. Nhưng thực tế ngoài thị trường lại diễn ra theo chiều ngược lại.
Các nhà xe trước đó đã tăng mạnh cước vận chuyển thêm 20.000 - 50.000 đồng/người với hành khách và khoảng 50.000 - 100.000 đồng/thùng (tùy trọng lượng) với hàng hóa. Và hiện tại, mức giá này vẫn đang giữ nguyên hoặc giảm nhỏ giọt, không đáng kể.
Chị Nguyễn Thị Tâm, kinh doanh đặc sản Gia Lai tại TP.HCM, cho biết mỗi ngày đều nhập hàng tươi từ quê vào thành phố. “Hồi đầu năm cước vận chuyển khoảng 200.000 đồng/chuyến. Đến lúc giá xăng tăng thì nhà xe báo tăng lên 250.000 đồng rồi 270.000 đồng và bây giờ vẫn vậy”, chị than.
1.001 lý do không giảm giá
Khi được hỏi vì sao đến giờ này vẫn chưa chịu giảm giá hàng hóa, các tiểu thương đã đưa ra đủ mọi lý do.
Bà Thu, chủ quán bún bò tại phường Bình Trưng (TP.HCM), cho biết giá xăng dầu giảm nhưng phần lớn nguyên liệu chính vẫn chưa hạ: “Thịt bò tôi mua không giảm, như xương ống trước khoảng 50.000 đồng/kg, giờ lên tới 70.000 đồng/kg. Xương bò, giò heo cũng tăng. Chỉ có rau là giảm nhẹ”, bà nói.
Cũng theo bà Thu, không chỉ thực phẩm mà nhiều khoản chi khác vẫn tiếp tục tăng. Bao bì, hộp nhựa tăng 15 - 20%, gia vị tăng 2 - 5%, đũa muỗng tăng 7 - 12%. “Giá đầu vào không giảm thì giá bán cũng rất khó giảm”, bà giải thích.
Bà Thu cho biết chưa thể giảm giá bún vì nhiều chi phí đầu vào vẫn cao.
Bà Thu còn cho biết, sau một thời gian dài, người tiêu dùng đã quen với mặt bằng giá hiện nay, trong khi lượng khách vẫn ổn định. “Giờ mà giảm giá, vài bữa nữa xăng tăng lại thì sao? Lúc đó lại khó tăng giá nên bây giờ không thể giảm được”, bà hỏi ngược lại.
Chính suy nghĩ này khiến nhiều hộ kinh doanh lựa chọn giữ nguyên giá thay vì điều chỉnh theo từng đợt biến động của nhiên liệu.
Anh Bảo, chủ một quán cà phê tại TP.HCM, cũng kể rằng khi giá xăng tăng, giá cà phê nhân tăng theo rất nhanh. “Trước tôi nhập cà phê khoảng 210.000 đồng/kg. Sau đó nhà cung cấp báo tăng lên 250.000 đồng/kg vì chi phí vận chuyển và nhiều khoản khác tăng”, anh Bảo nói. Vì thế, anh Bảo đã điều chỉnh giá mỗi ly cà phê sữa từ 25.000 đồng lên 27.000 đồng để bù đắp chi phí.
Gần đây, dù giá xăng dầu đã giảm xuống còn hơn 20.000 đồng/lít, anh cũng từng tính đưa giá bán trở về mức cũ. Tuy nhiên, phía nhà cung cấp cà phê cho biết chưa điều chỉnh giảm giá nguyên liệu nên anh vẫn chưa thể thực hiện được.
Chủ quán cà phê này cho rằng, nếu các doanh nghiệp sản xuất và nhà cung cấp ở khâu đầu tiên của chuỗi cung ứng chưa điều chỉnh giảm giá thì những đơn vị kinh doanh ở các khâu phía sau gần như cũng buộc phải giữ nguyên giá bán.
“Giá xăng dầu giảm là tín hiệu tích cực nhưng khi giá nguyên liệu đầu vào chưa giảm thì những người bán lẻ ở cuối chuỗi cũng không thể tự giảm giá cho khách hàng”, anh Bảo nói.
Còn lãnh đạo một doanh nghiệp vận tải lý giải: trong mối quan hệ giữa giá xăng dầu và giá cước vận tải, việc điều chỉnh giá cước thường có độ trễ nhất định, khoảng 15-30 ngày so với biến động giá nhiên liệu.
Nguyên nhân là doanh nghiệp cần thời gian theo dõi xu hướng thị trường, đánh giá mức độ biến động và cân đối tổng thể chi phí trước khi quyết định điều chỉnh giá bán dịch vụ.
Hầu hết các quán cà phê vẫn chưa điều chỉnh giá bán.
Về nguyên tắc, khi giá xăng dầu giảm thì giá cước vận tải sẽ có xu hướng giảm tương ứng. Tuy nhiên, thực tế còn phụ thuộc vào yếu tố cung cầu trên thị trường.
Chẳng hạn trong một số thời điểm nhu cầu đi lại tăng cao nhưng số lượng phương tiện phục vụ hạn chế, doanh nghiệp có thể chưa điều chỉnh giảm giá ngay để đảm bảo cân đối hoạt động và chi phí.
Hiện nhiên liệu hiện chiếm tỷ trọng khá lớn trong hoạt động vận tải hành khách, dao động khoảng 30 - 40% tổng chi phí tùy loại hình. Đối với xe chạy trong đô thị hoặc cự ly ngắn, thường xuyên dừng đỗ, kẹt xe thì chi phí nhiên liệu có thể lên tới khoảng 40%.
Trong khi đó, với xe chạy đường dài, vận hành ổn định hơn thì tỷ trọng này thấp hơn, khoảng 25%. Sự khác biệt này khiến việc điều chỉnh giá cước giữa các loại hình vận tải cũng không đồng nhất.
Đại diện một doanh nghiệp sản xuất thực phẩm tại TP.HCM cho biết, đợt giảm giá nhiên liệu vừa qua chưa tạo tác động đáng kể đến giá thành đầu ra. Vì hiện giá thành sản phẩm hiện chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi chi phí nguyên liệu, bao bì, nhân công, điện, nước và các chi phí vận hành khác.
Xu hướng giá xăng dầu trong nước từ đầu năm đến nay. (Nguồn: Bộ Công Thương)
Chuyên gia chỉ ra “hiệu ứng bánh răng”
Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng chi phí xăng dầu tuy chỉ chiếm khoảng 5 - 10% trực tiếp trong giá thành một tô phở, nhưng tác động lan tỏa của nó có thể ảnh hưởng đến 20 - 30% tổng chi phí do liên quan đến vận chuyển và logistics.
“Trong kinh tế học vi mô, chi phí xăng dầu là chi phí đầu vào gián tiếp nhưng có tác động lan tỏa rất lớn", ông Dũng nhận định.
Theo ông, về lý thuyết, khi chi phí biến đổi như xăng dầu giảm, giá bán lẻ cần được điều chỉnh giảm để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và kích cầu. Tuy nhiên, thực tế thị trường Việt Nam lại mang tính phi đối xứng, giá tăng nhanh nhưng giảm chậm. Đây là hiện tượng “hiệu ứng bánh răng”, tức là giá có xu hướng cứng nhắc đi xuống.
Ông phân tích, có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Thứ nhất là tâm lý lo ngại giá xăng sẽ tăng trở lại, khiến người bán không muốn điều chỉnh giá liên tục.
Hàng quán “cố thủ” giá bán dù xăng dầu “hạ nhiệt”.
Ngoài ra, khi người tiêu dùng đã quen với mức giá mới, các hàng quán sẽ tận dụng ngưỡng chấp nhận này để duy trì lợi nhuận. Cạnh tranh trong phân khúc ăn uống bình dân cũng chưa đủ mạnh để tạo áp lực giảm giá, bởi yếu tố vị trí và tiện lợi thường lấn át yếu tố giá.
Ở góc độ chi phí, ông Dũng cho rằng xăng dầu không phải là yếu tố duy nhất. Các chi phí cố định như mặt bằng, nhân công, điện nước thường chỉ tăng chứ ít khi giảm, tạo thành “lá chắn” để các hàng quán giữ giá.
Quan trọng hơn, trong nền kinh tế thị trường, giá bán không chỉ phụ thuộc vào chi phí mà còn vào cung - cầu và giá trị cảm nhận của khách hàng. Khi người tiêu dùng vẫn chấp nhận mức giá mới, động lực giảm giá sẽ không mạnh.
Dù vậy, chuyên gia cảnh báo việc giữ giá cao trong thời gian dài có thể phản tác dụng. Khi thu nhập không tăng, sức mua sẽ suy giảm, buộc người tiêu dùng thay đổi hành vi.
Ông Dũng nhận định nếu tình trạng này kéo dài, các hàng quán có thể mất khách hàng trung thành và thiệt hại có thể sẽ lớn hơn so với khoản lợi nhuận từ việc giữ giá cao.
Theo ông, giải pháp không chỉ nằm ở việc can thiệp hành chính mà còn ở sự minh bạch thông tin thị trường. Khi người tiêu dùng có đầy đủ thông tin, họ sẽ “bỏ phiếu bằng ví tiền”, buộc các hộ kinh doanh phải điều chỉnh giá theo quy luật cạnh tranh.
Ở đó, người tiêu dùng mong muốn giá cả hợp lý, phản ánh đúng chi phí. Người bán lại cần đảm bảo lợi nhuận và sự ổn định trong kinh doanh. Còn thị trường vận hành theo quy luật riêng, không phải lúc nào cũng đi theo lý thuyết.
Người tiêu dùng kỳ vọng giá hàng quán sẽ giảm nhưng vẫn chưa thấy đâu.
Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động, việc tìm ra điểm cân bằng giữa các bên là không dễ. Tuy nhiên, một điều rõ ràng, nếu giá cả không phản ánh đúng thực tế, thị trường sẽ tự điều chỉnh bằng cách khắc nghiệt nhất là người tiêu dùng sẽ rời bỏ.
Và khi đó, bài toán không còn là “giữ giá hay giảm giá”, mà là giữ được khách hay không.
Trong khi đó, nhiều chuyên gia khác cho rằng cần nhìn nhận khách quan xăng dầu không phải là yếu tố duy nhất cấu thành giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp còn phải chi trả cho nguyên vật liệu, tiền lương, lãi vay, mặt bằng, khấu hao tài sản, bảo hiểm, thuế và nhiều chi phí quản lý khác. Không ít doanh nghiệp vẫn đang sử dụng nguyên liệu hoặc hàng tồn kho được nhập vào khi giá còn cao, nên việc điều chỉnh giá cần có một độ trễ nhất định.
Tuy nhiên, về lâu dài, giá hàng hóa, dịch vụ cần được điều chỉnh, mới giữ được niềm tin và sức mua của người tiêu dùng.
Ngược lại, nếu vẫn nhất quyết không chịu giảm giá để trục lợi cho cho riêng mình thì cuối cùng người tiêu dùng vẫn là đối tượng phải gánh chịu, còn doanh nghiệp cũng sẽ đối mặt với sức mua suy giảm và thị trường tăng trưởng chậm.
Một tô bún, ly cà phê, cước vận chuyển hay phí giao hàng tuy chỉ tăng vài nghìn đồng mỗi lần nhưng cộng dồn lại trở thành khoản chi không nhỏ đối với các hộ gia đình, đủ sức khiến họ quay lưng với những hàng quán, doanh nghiệp không minh bạch.




