Nhiều người Việt đang ăn mặn quá mức mà không nhận ra
Chia sẻ tại Hội thảo cung cấp thông tin về Giảm tiêu thụ muối và các giải pháp thúc đẩy chế độ ăn lành mạnh do Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), Tổ chức Y tế thế giới phối hợp cùng các đơn vị tổ chức ngày 19/8, PGS.TS Trương Tuyết Mai - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế), cho biết mức tiêu thụ muối của người Việt Nam cải thiện nhưng vẫn còn ở mức cao.
Năm 2015, mức tiêu thụ muối của người dân Việt Nam là 9,4g mỗi ngày, con số này đã giảm xuống còn 8,1g mỗi ngày vào năm 2023. Tuy nhiên, mức này vẫn cao gấp khoảng 1,6 lần mức khuyến nghị dưới 5g/ngày của WHO (tương đương 1 thìa cà phê).
Đáng chú ý, nhóm nguy cơ cao như tăng huyết áp, đái tháo đường vẫn ăn mặn hơn quần thể chung.

PGS.TS Trương Tuyết Mai - Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia (Bộ Y tế).
Theo PGS. Mai các số liệu cho thấy tốc độ gia tăng yếu tố nguy cơ đang diễn ra đáng lo ngại. Qua hai cuộc điều tra STEPS năm 2015 và 2021, cả tăng huyết áp, tăng đường huyết/đái tháo đường và thừa cân đều tăng rõ rệt.
Tăng huyết áp tăng khoảng 39% về tương đối, trong khi đái tháo đường tăng gần gấp đôi. Gần 1/5 người trưởng thành được ghi nhận thừa cân, trong đó 2,1% béo phì.
Bên cạnh đó, bệnh không lây nhiễm đang ngày càng trẻ hóa. Tỉ lệ đồng mắc tăng huyết áp và đái tháo đường ở nhóm 25-64 tuổi tăng từ 0,44% năm 2010 lên 3,92% năm 2021, tức tăng hơn 8 lần trong một thập kỷ. Người trẻ và trung niên hiện chiếm khoảng 30% tổng số ca đột quỵ.
Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 5-19 tuổi tăng từ 8,5% năm 2010 lên 19% năm 2020, tăng 2,2 lần chỉ trong một thập kỷ. Ở người trưởng thành 18-69 tuổi, tỉ lệ thừa cân là 19,5% và béo phì 2,1%.
Việt Nam đồng thời phải đối mặt với cả ba gánh nặng dinh dưỡng: thiếu dinh dưỡng, thừa cân - béo phì và thiếu vi chất.
"Điều này có nghĩa trong cùng một cộng đồng, thậm chí trong một gia đình, có thể đồng thời tồn tại trẻ suy dinh dưỡng, người thừa cân và người thiếu vi chất. Vì vậy, các giải pháp dinh dưỡng cần được thiết kế theo hướng vừa phòng chống thiếu dinh dưỡng, vừa hạn chế thừa cân, béo phì và bệnh không lây nhiễm", PGS Mai nhận định.
Theo chuyên gia trong bối cảnh đô thị hóa, quỹ thời gian dành cho nấu ăn thu hẹp và dịch vụ giao đồ ăn phát triển nhanh, môi trường thực phẩm đang thay đổi mạnh. Thực phẩm giàu năng lượng, đường và natri ngày càng dễ tiếp cận, trong khi bữa ăn gia đình và thực phẩm tươi có xu hướng giảm.
Khẩu phần của người Việt cũng cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt. Lượng thịt tiêu thụ bình quân tăng từ 84g/người/ngày năm 2010 lên 136,4 g năm 2020; tại khu vực thành phố là 155,3 g/ngày. Trong khi đó, lượng rau và quả chín dù đã tăng nhưng mới đạt khoảng 66-77% mức khuyến nghị.
Đáng chú ý, mức tiêu thụ đồ uống có đường tăng mạnh. Bình quân đầu người tăng từ 18,5 lít/năm năm 2009 lên 66,5 lít/năm, tương đương mức tăng 350% trong 15 năm. Cùng với đó, thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ ăn vặt và các bữa ăn ngoài gia đình ngày càng phổ biến, đặc biệt tại đô thị và trong giới trẻ...
Muối là một khoáng chất thiết yếu, nhưng việc tiêu thụ quá nhiều muối trong chế độ ăn uống có thể dẫn đến huyết áp cao (tăng huyết áp) và làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng như đột quỵ. Natri (hay sodium) là một phần thiết yếu cấu thành nên muối ăn.
Theo bà Mai, đặc thù ở Việt Nam, phần lớn natri đến từ muối, nước mắm, bột canh, hạt nêm, mì chính được thêm vào khi chế biến và khi ăn. Đây là điểm khác biệt căn bản so với các nước thu nhập cao, nơi 70-80% natri đến từ thực phẩm chế biến sẵn. Thói quen chấm và chan nước mắm, nước dùng làm tăng đáng kể lượng natri thực tế.
Bên cạnh đó, một xu hướng đang thay đổi là tỉ trọng natri từ thực phẩm chế biến sẵn, mì ăn liền, đồ ăn vặt và bữa ăn ngoài đang tăng nhanh, đặc biệt ở đô thị và giới trẻ. Do đó, chiến lược giảm natri phải tác động đồng thời hai đặc điểm trên.
Ngoài ra, người dân thường không nhận thức được lượng muối mình thực sự tiêu thụ. Muối có thể ẩn chứa trong các loại thực phẩm chế biến sẵn hoặc thực phẩm đóng gói; được thêm vào thực phẩm trong quá trình nấu nướng (bao gồm bột canh, mì chính/bột ngọt, nước tương, dầu hào, nước mắm...); được thêm khi ăn như nước chấm và muối ăn.
Chuyên gia dinh dưỡng cũng thừa nhận việc giảm muối tương đối khó khăn. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 30% lượng muối tiêu thụ trung bình mỗi ngày của người dân, phấn đấu đưa mức tiêu thụ xuống dưới 7g/người/ngày.
Theo bà, bên cạnh vấn đề ghi nhãn, hướng dẫn ngưỡng natri tối đa, vấn đề truyền thông thay đổi hành vi như giảm gia vị mặn khi nấu và khi ăn, hạn chế chấm và chan cũng đóng vai trò quan trọng. Đồng thời, cần quan tâm đến nhóm thực phẩm siêu chế biến.
Gánh nặng ngày càng tăng của các bệnh không lây nhiễm
TS.Angela Pratt - Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam cho biết một chế độ ăn uống lành mạnh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hình sức khỏe thể chất, tinh thần ngay từ khi trẻ mới sinh cho đến khi trưởng thành.
Một xu hướng đáng lo ngại là việc tiêu thụ quá mức các thức ăn không có lợi cho sức khỏe. Đây là rủi ro sức khỏe lớn nhất mà Việt Nam và các quốc gia khác đang đối mặt.
Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng ngày càng tăng của các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, đái tháo đường, ung thư… Đây cũng là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất tại Việt Nam.

TS.Angela Pratt - Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam.
Theo bà, đằng sau đó là chế độ ăn uống không lành mạnh, tiêu thụ nhiều thực phẩm chế biến, thức ăn nhanh có hàm lượng chất béo, muối, đường cao, kèm theo đó là sự gia tăng tiêu thụ các loại đồ uống có đường.
Bệnh không lây nhiễm hiện là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong tại Việt Nam, chiếm hơn 80% số ca tử vong, trong đó có nhiều trường hợp là tử vong sớm khi người bệnh vẫn còn ở độ tuổi tương đối trẻ. Đột quỵ và bệnh tim mạch là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở cả nam và nữ.
Cùng với quá trình phát triển và đô thị hóa nhanh chóng, những thay đổi trong chế độ ăn uống, tình trạng ít vận động và xu hướng già hóa dân số có thể tiếp tục làm gia tăng gánh nặng bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn gánh nặng này có thể phòng ngừa được.
WHO khuyến nghị giải pháp chính sách toàn diện dựa trên bằng chứng khoa học nhằm thúc đẩy chế độ ăn lành mạnh và xây dựng môi trường thực phẩm có lợi cho sức khỏe.
Đây là những biện pháp giúp người tiêu dùng lựa chọn thực phẩm có lợi hơn cho sức khỏe, đồng thời bảo vệ trẻ em và các nhóm dân số dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực từ hoạt động quảng cáo để giảm thiểu yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm.




