Thị trường carbon Việt Nam: Có sàn giao dịch, làm sao biến giảm phát thải thành dòng tiền cho doanh nghiệp?

15/10/2026 04:12

Thị trường carbon được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chuyển hóa kết quả giảm phát thải thành nguồn lực tài chính, đa dạng hóa vốn cho quá trình chuyển đổi xanh. Tuy nhiên, để cơ chế này phát huy hiệu quả, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn cung tín chỉ chất lượng và hình thành tín hiệu giá đủ tin cậy.

Việt Nam đang đứng trước nhu cầu vốn lớn để thực hiện các mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải và chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Trong bối cảnh đó, thị trường carbon được kỳ vọng trở thành một kênh huy động nguồn lực bổ sung, giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và tạo thêm động lực kinh tế cho hoạt động giảm phát thải.

Tuy nhiên, việc xây dựng hạ tầng giao dịch mới chỉ là bước khởi đầu. Để thị trường vận hành hiệu quả, bài toán đặt ra không chỉ là tăng thanh khoản mà còn phải bảo đảm chất lượng hàng hóa, minh bạch thông tin và hình thành tín hiệu giá có thể hỗ trợ doanh nghiệp tính toán hiệu quả đầu tư dài hạn.

Đây là những vấn đề được các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và chuyên gia trao đổi tại Hội thảo "Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh", do Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức ngày 14/10/2026.

Nhu cầu vốn lớn, cần đa dạng hóa nguồn tài chính

Theo ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư bổ sung cho thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm phát thải đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, nhu cầu vốn cho thích ứng và nâng cao khả năng chống chịu khoảng 254 tỷ USD, còn giảm phát thải cần khoảng 114 tỷ USD.

Riêng ngành điện, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ước tính cần 136 tỷ USD để phát triển nguồn và lưới điện trong giai đoạn 2026-2030.

Nhu cầu vốn lớn đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực từ nhiều kênh, thay vì chỉ dựa vào ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng. Theo ông Giáp, thị trường carbon và tín dụng có thể bổ trợ cho nhau: thị trường carbon tạo động lực kinh tế để giảm phát thải, còn tín dụng cung cấp nguồn vốn để doanh nghiệp thực hiện các khoản đầu tư cần thiết.

Thị trường carbon Việt Nam: Có sàn giao dịch, làm sao biến giảm phát thải thành dòng tiền cho doanh nghiệp? - Ảnh 1.

Chuyên gia Kinh tế trưởng ADB chia sẻ tại hội thảo. (Ảnh: Báo Đầu tư)

Phát biểu tại hội thảo, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết tín dụng xanh cung cấp vốn cho doanh nghiệp đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển các ngành, lĩnh vực xanh, từ đó tạo ra kết quả giảm phát thải. Chính những kết quả này có thể trở thành cơ sở hình thành hàng hóa cho thị trường carbon.

Ở chiều ngược lại, khi thị trường carbon vận hành hiệu quả, doanh nghiệp có thể tạo nguồn thu và dòng tiền từ kết quả giảm phát thải để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó nâng cao chất lượng tín dụng. Doanh nghiệp cũng có điều kiện mua tín chỉ carbon để đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.

Thực tế, tín dụng xanh đã mở rộng cả về quy mô và mức độ tham gia của các tổ chức tín dụng. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Trong giai đoạn 2017-2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20% mỗi năm.

Dư nợ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học, chiếm trên 31%; năng lượng xanh chiếm gần 28%. Trong khi đó, dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, chiếm trên 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, khi thị trường carbon phát triển, doanh nghiệp có thể tạo nguồn lực từ chính kết quả giảm phát thải của mình, qua đó giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng xanh và giúp dòng vốn ngân hàng được phân bổ hiệu quả hơn.

Sàn giao dịch đã vận hành nhưng còn thiếu hàng hóa

Ngày 29/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch carbon trong nước, tạo khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Thị trường thí điểm bước đầu được hình thành với quy mô hơn 511 triệu tấn CO2, tương đương hạn ngạch phát thải được phân bổ cho các cơ sở thuộc ba ngành phát thải lớn là nhiệt điện, sắt thép và xi măng trong giai đoạn 2025-2026. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, trước khi chuyển sang vận hành bắt buộc toàn diện từ năm 2029. Trong thời gian thí điểm, BIDV là ngân hàng thanh toán duy nhất trên thị trường.

Thị trường carbon Việt Nam: Có sàn giao dịch, làm sao biến giảm phát thải thành dòng tiền cho doanh nghiệp? - Ảnh 2.

Ông Đỗ Thanh Lâm, Chuyên viên Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính. Ảnh: Báo Đầu tư

Tuy nhiên, theo ông Đỗ Thanh Lâm, Chuyên viên Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính, dù sàn giao dịch carbon trong nước đã đi vào vận hành từ cuối tháng 6/2026, đến thời điểm hội thảo ngày 14/10, chưa có mã tín chỉ carbon nào được niêm yết. Những giao dịch ban đầu chủ yếu tập trung vào hạn ngạch phát thải khí nhà kính.

Nguyên nhân là không phải tất cả tín chỉ carbon đang lưu hành đều đủ điều kiện giao dịch trên sàn trong nước. Theo quy định, hàng hóa được phép giao dịch bao gồm tín chỉ thuộc các cơ chế theo Điều 6.2, Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và một số cơ chế của Việt Nam. Tín chỉ do các tổ chức độc lập cấp trên thị trường tự nguyện không mặc nhiên được phép đưa lên sàn.

Do đó, phạm vi hàng hóa đủ điều kiện giao dịch còn tương đối hẹp, trong khi nguồn cung tín chỉ đáp ứng các tiêu chuẩn tương ứng chưa nhiều. Số lượng doanh nghiệp có thể trực tiếp giao dịch hạn ngạch phát thải cũng còn hạn chế, với hơn 100 doanh nghiệp thuộc nhóm được cấp hạn ngạch có thể tham gia giao dịch trên sàn.

Theo đại diện Bộ Tài chính, việc hoàn thiện hành lang pháp lý mới chỉ là một phần của quá trình phát triển thị trường. Để giao dịch phát triển, cần đồng thời mở rộng nguồn cung hàng hóa đủ điều kiện và thu hút thêm các chủ thể tham gia.

Tín hiệu giá phải hỗ trợ quyết định đầu tư

Bên cạnh nguồn cung, việc hình thành tín hiệu giá carbon đáng tin cậy cũng là điều kiện quan trọng để thị trường phát huy vai trò kinh tế.

Ông Đặng Tài An Trang, Phó Tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX), cho rằng không nên chỉ nhìn vào khối lượng hay giá trị giao dịch trong giai đoạn đầu để đánh giá hiệu quả vận hành. Điều quan trọng hơn là thị trường từng bước hình thành tín hiệu giá, giúp doanh nghiệp tính toán chi phí và lợi ích của hoạt động giảm phát thải.

Thị trường carbon Việt Nam: Có sàn giao dịch, làm sao biến giảm phát thải thành dòng tiền cho doanh nghiệp? - Ảnh 3.

Ông Đặng Tài An Trang, Phó Tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX). Ảnh: Báo Đầu tư

Theo ông Trang, tương tự thị trường trái phiếu cần đường cong lãi suất dài hạn làm cơ sở định giá và ra quyết định đầu tư, thị trường carbon cũng cần tín hiệu giá đủ rõ ràng để các chủ thể tham gia dự báo hiệu quả kinh tế.

Khi có giá tham chiếu, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc lượng hóa chi phí phát thải, đánh giá rủi ro tuân thủ và xác định lợi ích từ đầu tư công nghệ xanh, nhất là với những dự án có quy mô vốn lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, việc chủ động đầu tư công nghệ giảm phát thải còn giúp đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và hạn chế chi phí carbon phát sinh khi đưa hàng hóa vào những thị trường có quy định nghiêm ngặt. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu đang đặt ra yêu cầu về phát thải đối với một số nhóm hàng nhập khẩu, trong đó có sắt thép.

Dù vậy, quá trình chuyển đổi xanh cần có lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế. Theo đại diện VNX, nếu áp lực chuyển đổi diễn ra quá nhanh, vượt quá khả năng thích ứng của doanh nghiệp, chi phí tuân thủ có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng chung.

Để hình thành tín hiệu giá đáng tin cậy, thị trường cần hàng hóa đạt chuẩn, hệ thống thông tin minh bạch và cơ chế giám sát hiệu quả. Ông Trang nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV), bảo đảm chất lượng hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon, đồng thời hoàn thiện tiêu chuẩn công bố thông tin, ngăn ngừa thao túng thị trường và nguy cơ "tẩy xanh".

Hoàn thiện thể chế, kết nối các kênh tài chính xanh

Theo ông Bùi Minh Giáp, thị trường carbon cần phát triển đồng thời cả nguồn cung tín chỉ và thể chế. Tín chỉ phải phản ánh kết quả giảm phát thải hoặc hấp thụ phát thải thực tế, được tính toán và xác minh độc lập, tránh thống kê trùng lặp. Hồ sơ cần được chuẩn hóa, đồng thời có thể gộp các dự án nhỏ để giảm chi phí tham gia nhưng vẫn bảo đảm chất lượng tín chỉ.

Về thể chế, cần quy định rõ quyền sở hữu, quyền được cấp và bán tín chỉ, cách thức chia sẻ nguồn thu, quy trình đăng ký, cấp, chuyển nhượng và sử dụng tín chỉ, cũng như trách nhiệm của các bên khi xảy ra tranh chấp. Hệ thống đăng ký phải theo dõi được từng tín chỉ trong suốt vòng đời.

Đối với hoạt động tín dụng, các tổ chức tín dụng cần đánh giá đồng thời dòng tiền, khả năng trả nợ và tính khả thi của kế hoạch giảm phát thải; không nên coi nhãn xanh là yếu tố thay thế cho thẩm định tín dụng. Với dự án dự kiến có doanh thu từ tín chỉ carbon, ngân hàng cần xem xét khả năng được cấp tín chỉ, sản lượng thực tế, người mua, giá bán, chi phí xác minh và thời điểm nhận tiền. Hợp đồng mua dài hạn có thể giảm rủi ro đầu ra nhưng không bảo đảm doanh nghiệp tạo ra và giao đủ tín chỉ.

Về phía doanh nghiệp, hồ sơ dự án cần xác định mức phát thải và tiêu thụ năng lượng hiện tại, công nghệ đầu tư, mục tiêu giảm phát thải và các mốc thực hiện. Phương án tài chính cần thể hiện tổng chi phí, nguồn vốn đối ứng, dòng tiền và khả năng trả nợ trong các kịch bản bất lợi.

Chuyên gia ADB cho rằng ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng nhưng không thể tự mình đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho tài trợ xanh và tài trợ chuyển đổi. Vì vậy, cần kết hợp tín dụng với trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp, bảo lãnh và các cơ chế chia sẻ rủi ro.

Đại diện VNX cũng cho rằng trong giai đoạn đầu, phát triển trái phiếu xanh có thể thuận lợi hơn việc xây dựng tiêu chí nhận diện cổ phiếu xanh, bởi trái phiếu xanh gắn với mục đích sử dụng vốn cho các dự án đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Đồng thời, cần tiếp tục hoàn thiện các bộ chỉ số xanh chuyên sâu và chuẩn hóa dữ liệu môi trường để hỗ trợ nhà đầu tư nhận diện doanh nghiệp, phân bổ dòng vốn.

Như vậy, để thị trường carbon trở thành kênh huy động nguồn lực cho chuyển đổi xanh, Việt Nam cần giải quyết đồng thời ba vấn đề: phát triển nguồn cung tín chỉ chất lượng, hình thành tín hiệu giá đáng tin cậy và hoàn thiện thể chế, dữ liệu phục vụ giao dịch cũng như thẩm định tín dụng.

Khi các điều kiện này được đáp ứng, kết quả giảm phát thải mới có thể chuyển hóa thành nguồn thu cho doanh nghiệp, bổ trợ cho tín dụng xanh và góp phần đa dạng hóa nguồn tài chính phục vụ mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Bạn đang đọc bài viết "Thị trường carbon Việt Nam: Có sàn giao dịch, làm sao biến giảm phát thải thành dòng tiền cho doanh nghiệp?" tại chuyên mục Tài chính. Mọi chi tiết xin liên hệ số hotline 0903 78 12 09 hoặc gửi email về địa chỉ: phutrachnoidung@gmail.com